Thông tin cơ bản về Trung Quốc và quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
Ngày: 14.03.2019
Vị trí địa lý: Trung Quốc nằm ở phần nửa phía bắc của Đông bán cầu, phía đông nam của đại lục Á - Âu, phía đông và giữa châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương; có biên giới chung với Nga, Mông Cổ (phía bắc), với Kazakstan, Kirghistan, Taghikistan (phía tây), với Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nê Pan, Bu Tan (phía tây nam), với Myanma, Lào, Việt Nam (phía nam), với Triều Tiên (phía đông).

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ TRUNG QUỐC VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC 

I/ KHÁI QUÁT VỀ TRUNG QUỐC: 
1. Giới thiệu chung: 
- Tên nước: nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (The People’s Republic of China). 
- Ngày quốc khánh: 01-10-1949. 
- Vị trí địa lý: Trung Quốc nằm ở phần nửa phía bắc của Đông bán cầu, phía đông nam của đại lục Á - Âu, phía đông và giữa châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương; có biên giới chung với Nga, Mông Cổ (phía bắc), với Kazakstan, Kirghistan, Taghikistan (phía tây), với Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nê Pan, Bu Tan (phía tây nam), với Myanma, Lào, Việt Nam (phía nam), với Triều Tiên (phía đông). 
- Diện tích: 9,6 triệu km2 
- Khí hậu: Trung Quốc thuộc khu vực gió mùa, khí hậu đa dạng từ ấm đến khô. Nhiệt độ trung bình toàn quốc tháng 1 là -4,70C, tháng 7 là 260C. Ba khu vực được coi là nóng nhất là Nam Kinh, Vũ Hán, Trùng Khánh. 
- Dân số: hơn 1,3 tỷ người (tính đến 1/2006). 
- Dân Tộc: Trung Quốc là một quốc gia có nhiều dân tộc. Dân tộc Hán là chủ yếu, ngoài ra còn có 55 dân tộc ít người (chiếm 6% dân số cả nước và phân bổ trên 50-60% diện tích toàn quốc). 
- Hành chính: 31 tỉnh, thành phố gồm 22 tỉnh, 5 khu tự trị và 4 thành phố trực thuộc trung ương. 4 cấp hành chính gồm tỉnh, địa khu, huyện, xã. Thủ đô: Bắc Kinh. 
- Tôn giáo: Có 4 tôn giáo chính là Phật giáo, Đạo giáo, Đạo Hồi, Thiên chúa giáo. 
- Ngôn ngữ: Tiếng Hán là tiếng phổ thông, lấy âm Bắc Kinh làm tiêu chuẩn. 
2. Khái quát lịch sử: 
Người vượn Bắc Kinh xuất hiện cách đây 500.000 năm, là người nguyên thuỷ sống trên đất Trung Quốc. Trung Quốc đã trải qua các chế độ xã hội: 
- Công Xã nguyên thuỷ: người động Kim Sơn cách đây 10.000 năm, thời kỳ mẫu hệ. 
- Chế độ nô lệ: thời kỳ nhà Hạ (thế kỷ 21 – 16 trước công nguyên) và nhà Thương (thế kỷ 16 – 11 trước công nguyên) 
- Chế độ phong kiến: bắt đầu từ Tây Chu (thế kỷ 11 trước công nguyên) đến chiến tranh thuốc phiện (1840): 
Nhà Chu (thế kỷ 11 – 221 trước công nguyên) là thời phong kiến cát cứ; 
Nhà Tần (221 – 106 trước công nguyên) lần đầu tiên thống nhất Trung Quốc, thiết lập nước phong kiến tập quyền trung ương; 
Nhà Tuỳ (581 – 618) thống nhất Trung Quốc lần thứ 2; 
Nhà Đường (618-907) 
Nhà Liêu (916-1125) 
Nhà Minh (1368 – 1644) xuất hiện công trường thủ công, là mầm mống tư bản chủ nghĩa; 
Nhà Thanh (1644 - 1911). 
- Chế độ nửa phong kiến, nửa thuộc địa: bắt đầu từ sau chiến tranh thuốc phiện 1840 cho đến trước khi thành lập nước CHND Trung Hoa năm 1949. 
- Trung Hoa dân quốc (1912 – 1949) 
- Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1-10-1949). 
3. Thể chế nhà nước, Đảng phái chính trị và Lãnh đạo chủ chốt: 
- Thể chế nhà nước: Theo hiến pháp Trung Quốc, nước CHND Trung Hoa là một nước Xã hội chủ nghĩa của nền chuyên chính nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy liên minh công nông làm nền tảng. Chế độ Xã hội chủ nghĩa là chế độ cơ bản của Trung Quốc. Chuyên chính nhân dân là thể chế của nhà nước. Cơ cấu Nhà nước bao gồm Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc Hội), Chủ tịch nước, Quốc Vụ viện, Hội nghị Chính trị Hiệp thương toàn quốc (gọi tắt là Chính Hiệp, tương tự Mặt trận tổ quốc của ta), Uỷ ban Quân sự Trung ương, Đại hội Đại biểu Nhân dân và Chính phủ các cấp ở địa phương, Toà án Nhân dân và Viện Kiểm sát Nhân dân. 
- Đảng cầm quyền: Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập ngày 1-7-1921, hiện có 70,8 triệu Đảng viên. Bộ Chính trị có 25 người, trong đó có 9 Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng có 8 người. 
Ngoài Đảng Cộng sản Trung Quốc, còn có 8 Đảng phái khác, đều thừa nhận sự lãnh đạo của ĐCS trong khuôn khổ "hợp tác đa Đảng dưới sự lãnh đạo của ĐCS", bao gồm: Hội Cách mạng dân chủ, Liên minh dân chủ, Hội Kiến quốc dân chủ, Hội Xúc tiến dân chủ, Đảng Dân chủ nông công, Đảng Chí công, Cửu tam học xã và Đồng minh tự trị dân chủ Đài Loan. 
- Lãnh đạo chủ chốt: 
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa, Chủ tịch Uỷ ban Quân sự Trung ương ĐCS Trung Quốc, Chủ tịch Uỷ ban Quân sự Trung ương Nhà nước Trung Quốc: Hồ Cẩm Đào 
Thủ tướng Quốc Vụ viện CHND Trung Hoa: Ôn Gia Bảo 
Chủ tịch Quốc Hội (Uỷ viên trưởng Uỷ ban thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc nước CHND Trung Hoa): Ngô Bang Quốc 
Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân toàn quốc nước CHND Trung Hoa: Giả Khánh Lâm 
Bộ trưởng Ngoại giao nước CHND Trung Hoa: Dương Khiết Trì (từ 5/2007) 
4. Mục tiêu chiến lược và các bước phát triển của Trung Quốc đầu thế kỷ 21: 
Đại hội 15 ĐCS TQ (9/1997) đã đưa ra cương lĩnh xây dựng phát triển kinh tế Trung Quốc đầu thế kỷ 21 với 3 bước lớn: 
Bước 1: Từ năm 2000-2010, tăng gấp đôi GDP so với năm 2000, nâng cao đời sống nhân dân từ mức khá giả lên giàu có; 
Bước 2: Từ năm 2010-2020, kinh tế quốc dân phát triển hơn và các chế độ hoàn thiện hơn; 
Bước 3: Từ năm 2020 - 2049, cơ bản hoàn thành hiện đại hoá, TQ trở thành nước XHCN giầu mạnh, dân chủ, văn minh. 
Các bước phát triển kinh tế trên của TQ đã được cụ thể hoá thành các mục tiêu sau: 
- Mục tiêu phấn đấu tới năm 2010, tổng giá trị sản xuất trong nước (GDP) tăng gấp 2 lần năm 2000, dân số khống chế trong giới hạn 1,4 tỷ người, đời sống nhân dân từ khá giả lên giầu có, hình thành thể chế kinh tế thị trường XHCN tương đối hoàn thiện, tố chất tổng hợp kinh tế quóc dân nâng cao hơn nhiều so với năm 2000, sức cạnh tranh quốc tế tăng mạnh, sức sản xuất xã hội, sức mạnh tổng hợp quốc gia, mức sống của nhân dân nâng cao lên một bậc; duy trì tăng trưởng GDP bình quân 8%/ năm. 
- Từ năm 2010 - 2020, duy trì tăng trưởng GDP bình quân 7%/năm, cao hơn tỷ lệ tăng trưởng bình quân cộng lại của các nước thu nhập thấp, các nước thu nhập trung bình và các nước thu nhập cao. 
- Từ 2020 - 2030, tăng trưởng GDP bình quân 6,3%, tổng lượng kinh tế đạt tới vị trí số 1 thế giới. 
- Từ năm 2030 - 2040, tăng trưởng GDP bình quân 5,4%/năm. 
- Từ năm 2040 - 2050, GDP tăng trưởng bình quân 4,6%/năm. Cùng với kinh tế phát triển, bình quân GDP và các chỉ tiêu kinh tế khác cũng như trình độ phát triển xã hội đạt tới trình độ của các nước phát triển cuối thế kỷ 20. 
- Từ năm 2050 đến cuối thế kỷ 21, bình quân GDP và các chỉ tiêu kinh tế khác cũng như trình độ phát triển xã hội đều đạt tới trình độ của các nước phát triển cùng thời gian đó. Nói cách khác, TQ cần 100 năm để đạt tới vị trí đứng đầu thế giới về kinh tế. 
Đại hội 16 ĐCS TQ (11/2002): Chủ đề nổi bật của Đại hộilà giương cao ngọn cờ lý luận Đặng Tiểu Bình, Quán triệt toàn diện tư tưởng quan trọng "Ba đại diện", tiếp bước đi lên, tiến cùng thời đại, xây dựng toàn diện xã hội khá giả, đẩy nhanh hiện đại hoá XHCN, phấn đấu mở ra cục diên mới của sự nghiệp XHCN mang màu sắc TQ. Nêu rõ mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 là xây dựng toàn diện xã hội khá giả với các tiêu chí: GDP năm 2020 tăng 4 lần năm 2000 (theo các nhà kinh tế TQ, với mục tiêu này GDP sẽ đạt 35 nghìn tỷ NDT, tức khoảng 4200 tỷ USD theo giá không đổi năm 2000, bình quân đầu người hơn 3000 USD); dân chủ và pháp chế XHCN hoàn thiện hơn; tố chất đạo đức, tư tưởng, khoa học, văn hoá, sức khỏe của người dân được nâng cao rõ rệt; năng lực phát triển bền vững được tăng cường... 
Tại Hội nghị Trung ương 5 khóa 16 (10/2005) và Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa 10 (3/2006), Ban lãnh đạo mới của Trung Quốc do Tổng Bí thư, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đứng đầu đã xây dựng và thông qua "Quy hoạch 5 phát triển kinh tế xã hội năm lần thứ 11" (2006 – 2010), thực hiện toàn diện quan điểm phát triển khoa học, xây dựng xã hội hài hòa, duy trì tốc độ phát triển kinh tế tương đối nhanh và bền vững, thực hiện chuyển đổi phương thức tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy phát triển hài hòa giữa các vùng miền và lĩnh vực, tiếp tục đi sâu cải cách mở cửa. Trung Quốc nêu mục tiêu của giai đoạn 2006 -2010 là duy trì tốc độ tăng GDP khoảng 7,5%/năm; giảm tiêu hao năng lượng/GDP khoảng 20%; giảm chất thải ô nhiễm 10%; đề ra 6 nhiệm vụ chủ yếu: (1) Xây dựng nông thôn mới, coi việc giải quyết vấn đề "Tam nông" là nhiệm vụ hàng đầu trong các nhiệm vụ chiến lược; (2) Đẩy nhanh điều chỉnh cơ cấu kinh tế và chuyển đổiphương thức tăng trưởng, đi con đường công nghiệp hoá kiểu mới. (3) Thúc đẩy phát triển cân đối giữa các vùng miền. (4) Đẩy mạnh thực hiện chiến lược khoa học kỹ thuật chấn hưng đất nước; (5) Đi sâu cải cách và đẩy mạnh mở cửa, thúc đẩy phát triển toàn diện, hài hòa, bền vững; (6) Nỗ lực xây dựng xã hội hài hoà, dân chủ pháp trị. 
Hội nghị Trung ương 6 khóa 16 ( từ 8-11/10/2006) chuyên bàn và đưa ra Quyết định về "xây dựng xã hội hài hòa XHCN". Hội nghị nêu 9 mục tiêu, nhiệm vụ từ nay đến năm 2020: Hoàn thiện pháp chế dân chủ XHCN; Giải quyết chênh lệnh phát triển vùng miền, hình thành cơ chế phân phối thu nhập hợp lý; Tạo việc làm, xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội cả ở thành thị và nông thôn; Hoàn chỉnh hệ thống dịch vụ công; Nâng cao tố chất về tư tưởng, đạo đức, văn hóa, khoa học và sức khỏe toàn dân; Tăng cường năng lực sáng tạo xã hội; Hoàn thiện hệ thống quản lý xã hội; Nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường; Thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội khá giả toàn diện ở mức cao hơn, hình thành cục diện toàn dân làm hết năng lực- hưởng theo năng lực và chung sống hài hòa. 
Đại hội 17 ĐCS Trung Quốc dự kiến sẽ được tổ chức vào cuối năm 2007. 
5. Một số thành tựu chính: 
Gần 30 năm thực hiện cải cách mở cửa, Trung Quốc đã thu được những thành tựu to lớn, đưa Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trên thế giới. Từ năm 1979-2006, GDP bình quân hàng năm của Trung Quốc tăng trên 9,6 %, đạt mức cao nhất thế giới. Tính riêng năm 2006, GDP đạt 20.940 tỷ NDT (khoảng 2.700 tỷ USD), tăng 10,7%; tổng kim ngạch thương mại đạt 1.760 tỷ USD, tăng 23,8% (là năm thứ 5 liên tiếp tăng trên 20%); FDI thực tế đạt 69,5 tỷ USD; tạo thêm 11,84 triệu việc làm mới; thu nhập bình quân cư dân ở thành thị đạt 11.759 NDT (khoảng 1.500 USD), tăng 10,4%; thu nhập bình quân ở nông thôn đạt 3587 NDT (khoảng 460 USD), tăng 7,4%; sản lượng lương thực đạt 497,4 triệu tấn (năm thứ 3 liên tiếp tăng); dự trữ ngoại tệ hơn 1200 tỷ USD (tính đến hết tháng 4/2007). 
6. Về đối ngoại, Trung Quốc khẳng định sẽ tiếp tục đi theo con đường phát triển hòa bình, kiên trì mở cửa đối ngoại, sẵn sàng hợp tác cùng có lợi với các nước trên thế giới, trong đó Trung Quốc hết sức coi trọng phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng theo phương châm "mục lân, an lân, phú lân" (thân thiện với láng giềng, ổn định với láng giềng và cùng làm giàu với láng giềng). 
II/ TÌNH HÌNH QUAN HỆ VIỆT-TRUNG 
1. Kể từ khi bình thường hoá quan hệ năm 1991 đến nay, quan hệ hữu nghị và hợp tác cùng có lợi Việt - Trung phát triển nhanh chóng và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả hai bên. Đến nay, hai nước đã ký 52 hiệp định ở cấp nhà nước, đặt cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nước. Hai bên đã khai thông đường hàng không, đường biển, đường bộ, đường sắt, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu hàng hoá và hành khách giữa hai nước. Trao đổi đoàn ở trung ương và địa phương ngày càng tăng, hàng năm hai bên trao đổi trên 100 đoàn ở cấp lãnh đạo các bộ, ngành và địa phương, đoàn thể quần chúng, góp phần tăng cường hiểu biết, tin cậy lẫn nhau và mở rộng hợp tác giữa hai nước. 
Các cuộc gặp gỡ giữa Lãnh đạo cấp cao hai nước được duy trì đều đặn hàng năm. Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu tháng 2/1999, lãnh đạo cấp cao hai nước đã xác định phương châm 16 chữ thúc đẩy quan hệ hai nước trong thế kỷ 21 là "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai". Dịp Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm Trung Quốc tháng 12/2000, hai bên đã ký Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới, cụ thể hoá phương châm 16 chữ đó thành những biện pháp cụ thể phát triển quan hệ hai nước trên tất cả các lĩnh vực. Hai bên cũng đã thoả thuận đưa hai nước trở thành "láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt". 
Trong năm 2006, đã diễn ra chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh vào tháng 8, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào thăm Việt Nam tháng 11, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã có hai cuộc gặp gỡ với Thủ tướng Ôn Gia Bảo dịp dự Hội nghị ASEM 6 tại Phần Lan vào tháng 9 và dịp dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm Trung Quốc-ASEAN tại Nam Ninh vào tháng 10. 
Bước vào năm 2007, tiếp tục có các chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (5/2007), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng (4/2007) và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm (3/2007). Trong các chuyến thăm, Lãnh đạo cấp cao hai nước nhấn mạnh tình hữu nghị Việt – Trung là tài sản quý báu của hai nước và nhân dân hai nước, cần được hết sức giữ gìn và không ngừng vun đắp; khẳng định sẽ làm hết sức mình để đưa quan hệ đó ngày càng sâu sắc hơn, tin cậy hơn, cùng ủng hộ lẫn nhau trong sự nghiệp đổi mới, cải cách mở cửa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước, vì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. 
Quan hệ hợp tác giữa các ngành quan trọng như ngoại giao, quốc phòng, công an, an ninh của hai nước được tăng cường thêm một bước với việc ký các thỏa thuận hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao (12/2002), hai Bộ Công an (9/2003), hai Bộ Quốc phòng (10/2003). Việc giao lưu giữa thế hệ trẻ hai nước được tổ chức thường xuyên với nội dung phong phú, thiết thực. Một số hội thảo lý luận về kinh nghiệm phát triển đất nước, xây dựng CNXH, xây dựng Đảng được hai bên coi trọng và tổ chức đều đặn. 
Phía Việt Nam đã lập Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Châu (1993), Hongkong (1994). Tháng 5/2004, ta mở thêm hai Tổng lãnh sự quán tại Côn Minh (Vân Nam) và Nam Ninh (Quảng Tây), Trung Quốc. Phía Trung Quốc lập Tổng lãnh sự quán Trung Quốc tại thành phố Hồ Chí Minh (1993). 
Quan hệ giữa các tỉnh biên giới của hai nước cũng được tăng cường mạnh mẽ, lãnh đạo thường xuyên thăm viếng lẫn nhau, bàn việc đẩy mạnh hợp tác về kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch v.v... giữa hai bên cũng như công tác trong việc giữ gìn trật tự trị an vùng biên giới, góp phần đẩy nhanh tiến trình phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa hai nước. Đặc biệt là đầu tháng 6/2007, Bộ Ngoại giao đã chủ trì tổ chức đoàn của 7 tỉnh biên giới phía Bắc và thành phố Hải Phòng tiến hành xúc tiến kinh tế thương mại tại các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông - Trung Quốc đem lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp hai bên trong hợp tác kinh tế, thương mại, du lịch, đầu tư. Trong dịp này, các tỉnh biên giới phía Bắc của ta đã ký Thoả thuận với Quảng Tây và Vân Nam-Trung Quốc về việc thành lập Uỷ ban/Nhóm công tác liên hợp giữa các tỉnh biên giới hai nước. 
2. Hiện nay Trung Quốc đã trở thành bạn hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam. Năm 2006, kim ngạch mậu dịch song phương đạt 10,42 tỷ USD (ta xuất 3,03 tỷ USD; nhập 7,39 tỷ USD). 3 tháng đầu năm 2007, kim ngạch mậu dịch dịch song phương đạt 2,99 tỷ USD, tăng 42,2% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó Việt Nam xuất khẩu 722,7 triệu USD, giảm 2,29%; nhập khẩu đạt 2,27 tỷ USD, tăng 66,3%. 
Tuy nhiên, kim ngạch buôn bán hai chiều Việt-Trung chỉ chiếm khoảng 0,6% tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc trong khi chiếm hơn 12% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam; đáng chú ý là từ năm 2001 đến nay, Việt Nam liên tục nhập siêu từ Trung Quốc với mức độ tăng rõ rệt. Hai bên thoả thuận phấn đấu đưa kim ngạch song phương lên 15 tỷ USD vào 2010 đi đôi với giảm dần mức nhập siêu của Việt Nam. 
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết tháng 4/2007, Trung Quốc có 437 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư là 1,182 tỷ USD, đứng thứ 14/77 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. 
Trong chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết, hai bên đã ký được 6 văn bản hợp tác và 9 hợp đồng kinh tế trị giá 2,6 tỷ USD. Hai bên đã thành lập Nhóm công tác hợp tác kinh tế để xây dựng Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế thương mại Việt-Trung và đề xuất các dự án đưa vào khuôn khổ hợp tác "Hai hành lang, một vành đai kinh tế" giữa hai nước. 
3. Sau khi bình thường hoá quan hệ, năm 1993 hai bên đã ký Thoả thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ và các cuộc đàm phán về 3 vấn đề biên giới trên đất liền, phân định Vịnh Bắc Bộ và vấn đề trên biển (Biển Đông) chính thức bắt đầu. 
Về biên giới trên bộ: Ngày 30/12/1999, hai bên ký Hiệp ước biên giới trên đất liền. Nhìn chung, tình hình quản lý biên giới trên đất liền ổn định. Công tác phân giới cắm mốc trên đất liền đã có những tiến triển tích cực. Tại vòng 13 đàm phán cấp Chính phủ (1/2007) và vòng 19 cấp Chủ tịch Uỷ ban liên hợp (2/2007), hai bên đã đạt được nhận thức chung quan trọng về quyết tâm hoàn thành công tác phân giới cắm mốc tại thực địa trong năm 2007, phấn đấu trong năm 2008 hoàn thành toàn bộ công tác phân giới cắm mốc và ký kết văn kiện mới về "Quy chế quản lý biên giới." 
Về phân định Vịnh Bắc Bộ và hợp tác nghề cá tại Vịnh Bắc Bộ, ngày 25/12/2000, hai bên ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ. Sau 3 năm đàm phán, Nghị định thư bổ sung Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ đã được ký kết ngày 29/4/2004; hai Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ bắt đầu hiệu lực từ ngày 30/6/2004. 
Tình hình ở Vịnh Bắc Bộ về cơ bản ổn định: hai Hiệp định về Vịnh Bắc Bộ được triển khai hiệu quả hơn, công tác quản lý đánh bắt và bảo vệ nguồn lợi dần đi vào nề nếp, hạn chế tối đa các xung đột có thể nảy sinh; công ty dầu khí quốc gia hai nước đã ký Thoả thuận thăm dò chung trong khu vực thoả thuận ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ và đang triển khai; công tác kiểm tra, kiểm soát vi phạm trong Vịnh Bắc Bộ đã được lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam và lực lượng Kiểm ngư Trung Quốc tiến hành trong tháng 9/2006; lực lượng hải quân hai nước cũng đã tiến hành tuần tra chung 2 lần trên Vịnh Bắc Bộ. 
Hai bên cũng đã tiến hành được 3 vòng đàm phán về phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. 
Đối với vấn đề biển Đông, hai bên nhất trí kiên trì thông qua đàm phán hoà bình để giải quyết. Đến nay, hai bên đã tiến hành 12 vòng đàm phán cấp chuyên viên về vấn đề trên biển, tăng thêm hiểu biết về lập trường của nhau. Giữa ASEAN và Trung Quốc cũng đã ký Tuyên bố về cách ứng xử ở biển Đông (DOC), hiện đang trong quá trình trao đổi để đi vào triển khai, tiến tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC). Ngày 14/3/2005, ba công ty dầu khí 3 nước Việt Nam (PetroVietnam), Trung Quốc (CNOOC), Phi-lip-pin (PNOC) đã ký được Thoả thuận về khảo sát địa chấn chung trong một số khu vực trên biển Đông và đang được triển khai thuận lợi. 
4. Trong những năm qua, quan hệ trao đổi, hợp tác giữa ta với Trung Quốc trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, văn hoá - thể thao được đẩy mạnh. Hàng năm, Trung Quốc tiếp nhận một số lượng đáng kể các học sinh, thực tập sinh và các đoàn thể thao của ta sang nghiên cứu, học tập và tập huấn tại Trung Quốc, đồng thời cử nhiều cán bộ, huấn luyện viên sang giúp ta trong công tác huấn luyện các môn thể thao. Hai bên trao đổi các đoàn biểu diễn nghệ thuật, tổ chức nhiều cuộc giao lưu văn hoá, thể thao, góp phần tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân 2 nước. 
Các địa phương của hai bên cũng tăng cường quan hệ hợp tác trực tiếp với nhiều hình thức đa dạng và thiết thực (trao đổi đoàn khảo sát, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, ký kết các văn bản hợp tác, cùng nhau tổ chức hội thảo, triển lãm...), góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đặc biệt là giữa 2 tỉnh Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc và các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam. 
Tiềm năng phát triển của mối quan hệ Việt - Trung là rất lớn, với sự cố gắng chung của cả hai bên, mối quan hệ đó sẽ không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp hơn trong thế kỷ 21, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai nước, vì hoà bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới./. 


Nguồn: (http://www.mofa.gov.vn/vi/)