Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
Ngày: 15.03.2019
Việt Nam và Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 12/7/1995, trao đổi Đại sứ đầu tiên vào tháng 7/1997, mở Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh và Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại San Francisco vào tháng 11/1997

QUAN HỆ VIỆT NAM - HOA KỲ 

Việt Nam và Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 12/7/1995, trao đổi Đại sứ đầu tiên vào tháng 7/1997, mở Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh và Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại San Francisco vào tháng 11/1997. 
Về quan hệ chính trị: Quan hệ ngày càng được tăng cường và phát triển trên nhiều mặt. Hai bên đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao. Về phía Việt Nam thăm Mỹ có đoàn Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm (1998, 2000), Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng (2001), Phó Thủ tướng Vũ Khoan (2003), Thủ tướng Phan Văn Khải (6/2005), Phó Thủ tướng kiêm BTNG Phạm Gia Khiêm (3/2007) và nhiều đoàn cấp Bộ trưởng. Phía Mỹ cũng cử nhiều đoàn cấp cao thăm Việt Nam: Ngoại trưởng W.Christopher (1995); Cố vấn an ninh quốc gia A. Lake (1996); Ngoại trưởng M.Albright (1997); cựu Tổng thống G. Bush (1995); Bộ trưởng Quốc phòng W.Cohen (2000); Tổng thống W.Clinton (tháng 11/2000); Ngoại trưởng C.Powell (2001); Chủ tịch Hạ viện D. Hastert (tháng 4/2006); Bộ trưởng Quốc phòng D.Rumsfeld (6/2006); Đại diện Thương mại S. Schwab (5/2006); Bộ trưởng Tài chính H. Paulson (9/2006), Ngoại trưởng C. Rice, Tổng thống G. Bush (11/2006)... 
Đặc biệt, trong chuyến thăm chính thức Mỹ của Thủ tướng Phan Văn Khải 6/2005 hai bên đã ra Tuyên bố chung khẳng định mong muốn xây dựng quan hệ đối tác xây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt, ổn định lâu dài giữa hai nước. Tổng thống G. Bush cam kết tôn trọng chủ quyền, an ninh của Việt Nam. Trong chuyến thăm Việt Nam 11/2006 của Tổng thống Bush, hai bên cũng ra Tuyên bố chung tái khẳng định cam kết trên, đồng thời mở ra những cơ hội hợp tác mới giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực. 
Gần đây nhất là chuyến thăm chính thức Mỹ của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết theo lời mời của Tổng thống G.Bush (18-23/6/2007). Trong chuyến thăm lần này, hai bên thống nhất tăng cường hơn nữa quan hệ nhiều mặt trên cơ sở sâu rộng, ổn định và hiệu quả, đã ký kết Hiệp định khung về thương mại và đầu tư (TIFA) và nhiều thỏa thuận kinh tế song phương quan trọng. 
Quan hệ kinh tế - thương mại: Hai nước đã ký kết một số Hiệp định, Thoả thuận về kinh tế như Hiệp định về thiết lập quan hệ quyền tác giả (ngày 27/6/1997), Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Mỹ (ký ngày 13/7/2000, có hiệu lực ngày 10/12/2001), Hiệp định Hợp tác về khoa học và công nghệ (có hiệu lực từ ngày 26/3/2001), Hiệp định Dệt-may (có hiệu lực từ 1/5/2003), Hiệp định Hàng không (có hiệu lực từ 14/1/2004); Hiệp định khung hợp tác về kinh tế và kỹ thuật (có hiệu lực từ 28/7/2005), Bản Ghi nhớ hợp tác về Nông nghiệp (ký tháng 6/2005)... 
Đáng chú ý, ngày 31/5/2006 hai nước đã chính thức ký thoả thuận kết thúc đàm phán song phương giữa Việt Nam và Mỹ về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Ngày 9/12/2006, Quốc hội Mỹ đã thông qua dự luật áp dụng quy chế Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam và ngày 29/12/2006 Tổng thống G. Bush đã ký ban hành luật này. Ngày 21/6/2007, nhân chuyến thăm chính thức Mỹ của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, hai bên đã ký Hiệp định khung về thương mại và đầu tư (TIFA). 
Kể từ khi HĐTM có hiệu lực đến nay, quan hệ buôn bán giữa hai nước tăng nhanh: kim ngạch buôn bán 2 chiều năm 2005 đạt 7,8 tỉ USD, tăng gấp hơn 5 lần năm 2001 (1,5 tỉ USD); năm 2006 đạt 9,7 tỷ USD, trong đó Việt Nam nhập 1,1 tỷ và xuất 8,6 tỷ (Việt Nam luôn xuất siêu lớn sang Mỹ). Hiện Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Đầu tư của Mỹ vào Việt Nam đến tháng 9/2007 đạt hơn 2,6 tỷ USD, xếp thứ 7 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ nước ngoài đầu tư vào Việt Nam (nếu tính cả qua nước thứ 3 đạt khoảng 5,1 tỷ USD). Hiện có hơn 1000 doanh nghiệp Mỹ đang hoạt động tại Việt Nam. Trong quá trình mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại đã nảy sinh một số tranh chấp như vấn đề cá tra, basa, tôm, hàng dệt.... 
Hợp tác trong lĩnh vực Khoa học - Công nghệ, Văn hoá, Giáo dục - Đào tạo, Y tế và Lao động: Hai nước đã ký kết nhiều văn bản như Tuyên bố chung về hợp tác y tế giữa hai Bộ Y tế (12/1997), Thoả thuận hợp tác về thể dục thể thao (tháng 3/1999), Bản ghi nhớ về hợp tác lao động Việt Nam-Mỹ (11/2000), Bản Ghi nhớ về hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực Khí tượng Thuỷ văn (1/2001), Biên bản Ghi nhớ giúp đào tạo nhân lực cho ngành Thuỷ sản Việt Nam (11/3/2003), Hiệp định hợp tác y tế và khoa học y học Việt Nam-Mỹ (7/2006)... Năm 2003, hai nước đã ký kết Nguyên tắc hợp tác trong việc thực hiện Đề án Quỹ giáo dục của Mỹ dành cho Việt Nam (VEF), cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam sang Mỹ đào tạo về các ngành khoa học, công nghệ. Ngày 23/6/2004, Tổng thống Mỹ G.Bush tuyên bố đưa Việt Nam vào danh sách 15 nước ưu tiên trong Kế hoạch Viện trợ khẩn cấp về phòng chống HIV/AIDS. Mỹ cũng hợp tác tích cực và tài trợ cho Việt Nam trong lĩnh vực phòng chống đại dịch cúm gia cầm. 
Hai nước cũng đang duy trì đối thoại về các vấn đề lao động, nhân quyền và tôn giáo. 
Hợp tác về các vấn đề nhân đạo do chiến tranh để lại: Với truyền thống và chính sách nhân đạo, Việt Nam đã và đang hợp tác tốt với Mỹ trong việc giải quyết vấn đề người Mỹ mất tích trong chiến tranh. Đến nay, hai nước đã tiến hành 89 đợt tìm kiếm hỗn hợp. Phía Việt Nam đã trao cho Mỹ hơn 800 bộ hài cốt. Phía Mỹ cũng đang từng bước hợp tác với Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề hậu quả chiến tranh ở Việt Nam như cung cấp các thông tin liên quan tới việc tìm kiếm người Việt Nam bị mất tích trong chiến tranh, tổ chức hội nghị về nghiên cứu hậu quả chất độc da cam, thực hiện các chương trình rà phá bom mìn, trồng cây xanh, trợ giúp nạn nhân... 
Việc giải quyết hậu quả chất độc da cam cũng đã có những tiến triển bước đầu. Ngày 25/5/2007, Quốc hội Mỹ đã thông qua khoản chi 3 triệu USD hỗ trợ bảo vệ môi trường và chăm sóc sức khoẻ tại Việt Nam. Các nạn nhân Việt Nam đã đệ đơn kiện các công ty hoá chất Mỹ tại Toà án Liên bang Mỹ để buộc các công ty Mỹ phải có trách nhiệm. 
Quan hệ an ninh - quân sự: hai bên đã trao đổi Tuỳ viên quân sự; tiến hành trao đổi các đoàn, kể cả các đoàn cấp Thứ trưởng và Bộ trưởng Quốc phòng nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ W.Cohen thăm Việt Nam tháng 3/2000. Đáp lại, Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà đã thăm Mỹ tháng 11/2003. Tháng 6/2006, Bộ trưởng Quốc phòng D. Rumsfeld thăm Việt Nam. Từ năm 2003, hàng năm tàu hải quân Mỹ thăm hữu nghị cảng Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác song phương. Ngày 29/12/2006, cùng với việc tuyên bố dành quy chế PNTR cho Việt Nam, Tổng thống G. Bush ra quyết định dỡ bỏ cấm vận bán một số mặt hàng quân dụng phi sát thương cho Việt Nam. 
Hợp tác chống khủng bố: Việt Nam đã và đang tiếp tục hợp tác với Mỹ trong một số lĩnh vực cụ thể. Đồng thời, Việt Nam cũng yêu cầu chính phủ Mỹ hợp tác ngăn chặn và nghiêm trị những tổ chức và cá nhân có hành động khủng bố chống Việt Nam. 
Địa chỉ của Đại sứ quán Việt Nam ở Mỹ 
1233 20th Str., NW, Suite 400 
Washington, DC 20036 
ĐT: 1-202-861 0737, Fax: 1-202-861 0917 
Email: info@vietnamembassy-usa.org 
Địa chỉ của Đại sứ quán Mỹ ở Việt Nam 
Số 7 Láng Hạ, Ba Đình 
Hà Nội, Việt Nam 
Nguồn: (http://www.mofa.gov.vn/vi/)

Đang Online: 2
Truy cập tháng: 912
Tổng truy cập: 7116